KỲ 1: QUYẾT SÁCH GIÁO DỤC VĨ MÔ NƠI BIÊN CƯƠNG CỦA TỔ QUỐC
5 giờ sáng ở xã biên giới Thanh Thủy, màn sương vẫn phủ trên những dãy núi chạy dọc đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Công trường xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp đã nhộn nhịp. Tiếng máy cắt sắt, tiếng xe chở vật liệu và những nhịp búa dồn dập phá tan sự tĩnh lặng của vùng biên. Trên nền bê tông còn phảng phất mùi sơnmới, từng tốp công nhân khẩn trương hoàn thiện những hạng mục cuối cùng để kịp đón năm học mới 2026 -2027.
Đứng bên hàng rào công trình, mấy cháu nhỏ theo mẹ lên nương vẫn cố nán lại,háo hức nhìn dãy phòng học bốn tầng khang trang, rộng rãi. Chỉ ít tháng nữa, ngôi trường nội trú liên cấp Tiểu học &THCS Thanh Thủy sẽ chính thức đi vào hoạt động với diện tích hơn 5,3 ha. Khi ấy,hàng trăm học sinh vùng biên sẽ được học tập, ăn ở và sinh hoạt tập trung trong điều kiện tốt,giảm bớt những trở ngại do địa hình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và những rào cản từ tập quán cũ. Hành trình giữ các em ở lại lớp học vì thế không đơn thuần là câu chuyện của ngành giáo dục, mà còn là câu chuyện của công tác dân vận, công tác xây dựng Đảng và của quá trình bền bỉ củng cố thế trận lòng dân nơi biên cương Tổ quốc.
Trong bối cảnh đó, phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quangtháng 8 năm2025 về chủ trương xây dựng hệ thống trường nội trú liên cấp khu vực biên giới đã mở ra một tầm nhìn chiến lược mới: bảo vệ chủ quyền quốc gia phải bắt đầu từ con người, từ cộng đồng dân cư gắn bó với biên giới và từ những lớp học nơi địa đầu đất nước:Chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường nội trú liên cấp khu vực biên giới không chỉ để các cháu có điều kiện học tập tốt hơn, mà còn hướng tới mục tiêu lâu dài - giữ gìn chủ quyền lãnh thổ quốc gia từ gốc rễ: đó là con người, là cộng đồng gắn bó với đất, với rừng, với đường biên, cột mốc.
Lời căn dặn ấy không chỉ là một định hướng giáo dục mang tính nhân văn sâu sắc mà còn thể hiện tư duy chiến lược về quốc phòng, an ninh, phát triển con người và xây dựng thế trận lòng dân trong giai đoạn mới. Đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Tuyên Quang, đây là định hướng quan trọng để cụ thể hóa thành các chương trình, giải pháp phát triển giáo dục vùng biên sau khi tỉnh bước vào giai đoạn phát triển sau sáp nhập.
Sau bước ngoặt hợp nhất mang tầm nhìn thế kỷ ngày 1/7/2025, không gian địa - chính trị, địa - văn hóa và quốc phòng của tỉnh đã dịch chuyển về mặt định vị chiến lược. Tuyên Quang hôm nay không còn là một tỉnh nội địa đơn thuần; bản đồ mới của tỉnh đã nối dài đến tận đỉnh Lũng Cú, trực tiếp bảo vệ hơn 277 km đường biên giới đất liền giáp nước Trung Quốc, quản lý 17 xã biên giới và 122 thôn bản vùng cao, nơi cư trú lâu đời của 22 dân tộc anh em.Sự thay đổi về tầm vóc địa lý đặt lên vai Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang một sứ mệnh thiêng liêng nhưng cũng đầy thách thức: Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên một địa bàn chiến lược, vừa là phòng tuyến quốc phòng, vừa là khu vực còn nhiều gian khó với địa hình chia cắt và đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối.
Nhận thức rõ yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới sau sáp nhập, Tỉnh ủy Tuyên Quang xác định phát triển kinh tế phải gắn với củng cố quốc phòng - an ninh; xây dựng hạ tầng phải đi đôi với phát triển con người; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ phải bắt đầu từ việc bồi đắp lòng dân và nâng cao dân trí. Nếu những tuyến đường mở lối cho giao thương thì trường học chính là con đường mở lối cho tương lai và sự ổn định lâu dài của vùng biên giới.
Từ đó, đầu tư cho giáo dục vùng cao không còn chỉ là nhiệm vụ an sinh xã hội mà đã trở thành một giải pháp chiến lược trong xây dựng thế trận lòng dân và bảo vệ chủ quyền từ sớm, từ xa. Mỗi ngôi trường được xây dựng nơi biên cương không chỉ tạo cơ hội học tập cho học sinh dân tộc thiểu số mà còn góp phần giữ dân, giữ bản, tạo nền tảng phát triển bền vững cho địa phương. Đó cũnglà cách Đảng hạ đặt một “cột mốc chủ quyền kiên cố bằng tri thức”, kiến tạo nên một “vành đai xanh” bền vững bảo vệ Tổ quốc.
Khi “ý Đảng” hóa thân vào dáng hình trường học trên đỉnh đá xám miền biên cương
Nhìn lại lịch sử cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, là động lực then chốt của sự phát triển đất nước. Tư tưởng ấy khi soi rọi vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi biên giới được nâng tầm thành một nhiệm vụ chính trị mang tính sống còn. Cụ thể hóa các Nghị quyết của Trung ương, bằng các Chương trình hành động quyết liệt của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tại Đại hội đại biểu lần thứ I (nhiệm kỳ mới sau sáp nhập), đặc biệt là Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 - 2025,Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã từng bước hiện thực hóa các chủ trương lớn bằng những dự án đầu tư giáo dục quy mô chưa từng có tại vùng cao biên giới.
Tại sao Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lại kiên định lựa chọn mô hình trường nội trú liên cấp làm “mũi đột phá” chiến lược tại vùng biên? Câu trả lời nằm ở chính thực tiễn khắc nghiệt của địa bàn. Ở vùng cao, địa hình chia cắt mạnh bởi núi cao, vực sâu, khoảng cách từ nhà đến trường của các em học thường phải đo bằng nhiều tiếng đi bộ băng rừng, lội suối. Đời sống mưu sinh của đồng bào còn nhiều gian khó, cái nghèo là sợi dây vô hình níu chân con chữ, khiến tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng luôn là nỗi trăn trở kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ.
Trong chiến lược phát triển vùng biên, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang xác định phát triển giáo dục là nhiệm vụ ưu tiên, gắn chặt với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc và củng cố quốc phòng - an ninh. Chủ trương đó được cụ thể hóa bằng việc ưu tiên đầu tư hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú liên cấp tại các xã vùng cao, đặc biệt là 17 xã biên giới.
Theo Quyết định số 990/QĐ-UBND ngày 21/10/2025 của UBND tỉnh Tuyên Quang, tỉnh đầu tư xây dựng 06 trường học giai đoạn 1 tại các xã biên giới gồm: Thanh Thủy (211,178 tỷ đồng), Sơn Vĩ (211,178 tỷ đồng), Xín Mần (224,358 tỷ đồng), Pà Vầy Sủ (211,178 tỷ đồng), Minh Tân (251,010 tỷ đồng) và Phố Bảng (191,981 tỷ đồng). Tổng mức đầu tư của 06 dự án là 1.300,883 tỷ đồng, sử dụng nguồn ngân sách Trung ương và các nguồn vốn hợp pháp khác. Việc đầu tư này nhằm triển khai Thông báo số 81-TB/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch hành động của Chính phủ về chủ trương xây dựng hệ thống trường học tại các xã biên giới, góp phần hoàn thiện hạ tầng giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội ở địa bàn đặc biệt khó khăn.
Việc lồng ghép Dự án 6 với các chương trình mục tiêu quốc gia đã tạo điều kiện để giáo dục vùng cao bước vào một giai đoạn phát triển mới. Trên công trường tại các xã Thanh Thủy, Sơn Vĩ, Xín Mần, Pà Vầy Sủ, Minh Tân và Phố Bảng, các hạng mục phòng học, khu nội trú, nhà ăn, thư viện, phòng máy tính cùng hệ thống hạ tầng phụ trợ đang được khẩn trương hoàn thiện đưa vào sử dụng từ năm học 2026 - 2027. Khi đi vào hoạt động, các trường học sẽ bảo đảm điều kiện học tập, ăn ở và sinh hoạt ổn định cho học sinh vùng biên, góp phần giảm tỷ lệ bỏ học, nâng cao chất lượng giáo dục và tạo cơ hội học tập liên tục cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số.
Quan trọng hơn, những công trình ấy không chỉ tạo dựng không gian học tập mới mà còn đặt nền móng cho sự phát triển lâu dài của vùng biên.Những học sinh được học tập trong điều kiện tốt hơn hôm nay sẽ trở thành lực lượng lao động có tri thức, có kỹ năng, có ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và trách nhiệm với quê hương. Từ góc độ công tác xây dựng Đảng, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho con người; là quá trình tạo nguồn cán bộ, đảng viên người dân tộc thiểu số có trình độ, bản lĩnh và khát vọng cống hiến để kế tục sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc vùng biên cương của Tổ quốc.
Trao đổi về định hướng phát triển giáo dục vùng biên trong giai đoạn mới, đồng chí Lê Mạnh Dũng Phó bí thư Đảng ủy, chủ tịch xã Thanh Thủy cho biết :“Đầu tư cho giáo dục không chỉ nhằm nâng cao dân trí mà còn là giải pháp tạo nguồn cán bộ trẻ và xây dựngphát triển kinh tế - xã hội nơi biên giới. Mỗi học sinh đến trường đầy đủ hôm nay chính là một hạt giống cho sự phát triển bền vững của địa phương ngày mai”.
Chị Bàn Thị Dợ, một phụ huynh người Dao tại xã Thanh Thủy chia sẻ trong niềm xúc động:“Ngày trước nhà nghèo lắm, nhiều lúc nghĩ cho con nghỉ học đi nương. Nhưng các thầy cô giáo nhiều lần đến động viên, giải thích cho gia đình hiểu và cho con đi học. Bây giờ cháu sẽđược học nội trú, biết nói tiếng Việt thành thạo, biết dùng máy tính,tôi thấy tương lai của con tôisẽkhác tôi rất nhiều”. Những lời tâm sự giản dị ấy phản ánh sinh động hiệu quả của chủ trương đúng đắn mà các cấp ủy Đảng đang kiên trì thực hiện trên vùng cao biên giới.

:Đồng chí Lê Mạnh Dũng (áo trắng) - Phó bí thư Đảng ủy, chủ tịch xã Thanh Thủy kiểm tra tiến độ
xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học &THCS Thanh Thủy
“Vành đai tri thứcxanh”- Lá chắn tinh thần bền vững
Sự phổ cập của điện thoại thông minh, internet và mạng xã hội đang mở ra nhiều cơ hội tiếp cận tri thức cho thanh thiếu niên vùng cao. Tuy nhiên, cùng với những mặt tích cực, không gian mạng cũng đặt ra không ít thách thức. Tại một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, khi khả năng tiếp cận và sàng lọc thông tin còn hạn chế, các thông tin sai lệch, xuyên tạc hoặc các luận điệu chống phá có thể tác động đến nhận thức của một bộ phận người dân, nhất là thanh thiếu niên. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tăng cường giáo dục, nâng cao hiểu biết pháp luật và bản lĩnh cho thế hệ trẻ ngay từ trong nhà trường.
Thực tế lịch sử tại địa bàn tỉnh đã để lại những bài học sâu sắc. Các thế lực phản động đội lốt tôn giáo, tà đạo như “Dương Văn Mình” hay “San sư khẻ tọ” đã từng lợi dụng sự nhẹ dạ và tập tục cũ của đồng bào dân tộc thiểu số để gieo rắc tư tưởng xấu, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Khi công nghệ số tràn về bản làng, mạng xã hội trở thành con dao hai lưỡi. Nhiều người trẻ vùng cao do thiếu bản lĩnh văn hóa và tri thức nhận diện đã sập bẫy các đường dây lừa đảo công nghệ, hoặc bị tiêm nhiễm những tư tưởng sai trái,làm phai nhạt giá trị truyền thống.
Đứng trước thực trạng nhức nhối đó, dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban Chỉ đạo 35 Tỉnh ủy Tuyên Quang, hệ thống trường nội trú liên cấp khu vực biên giới được xác định là môi trường giáo dục cốt lõi để giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức và bồi dưỡng bản lĩnh cho thế hệ trẻ. Điều đáng chú ý là vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng trong nhà trường ngày càng được thể hiện rõ nét. Các chi bộ trường học vùng cao, biên giới không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà còn trực tiếp lãnh đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh, đấu tranh với các biểu hiện lệch chuẩn trên không gian mạng. Mỗi đảng viên trong nhà trường vừa là người thầy, vừa là hạt nhân chính trị, góp phần củng cố niềm tin của học sinh và phụ huynh đối với Đảng, Nhà nước.
Trong ý nghĩa đó, giáo dục dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, đã không còn là câu chuyện của riêng ngành giáo dục, mà đã vươn tầm thành một “vành đai tri thức xanh”- lá chắn tinh thần kiên cố nhất bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia từ gốc rễ con người, là một bộ phận quan trọng trong chiến lược củng cố thế trận lòng dân ở khu vực biên giới.
KỲ 2: TÔI “SỢI THÉP” BẢN LĨNH CHO THẾ HỆ TRẺ VÙNG BIÊN CƯƠNG
Giáo dục song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số:Giữ gìn bản sắc từ những bài học đầu đời
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, ngôn ngữ không đơn thuần là một phương tiện để giao tiếp xã hội, ngôn ngữ chính là tấm gương phản chiếu sinh động nhất bản sắc văn hóa, ký ức lịch sử và cấu trúc tâm lý của một tộc người. Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, tiếng nói và chữ viết còn là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa và cội nguồn dân tộc. Trên các xã biên giới của tỉnh Tuyên Quang hôm nay, tiếng H’mông, Dao, Tày ... vẫn vang lên trong mỗi nếp nhà, phiên chợ và lớp học. Giữ gìn tiếng nói dân tộc thiểu số là bảo tồn văn hóa, giữ gìn nền tảng tinh thần của cộng đồng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc nơi biên cương Tổ quốc.
Tại một lớp học dưới chân cột cờ Lũng Cú, cô giáo bắt đầu tiết học bằng một câu hỏi quen thuộc “Ai có thể kể cho cô nghe một câu chuyện bằng tiếng H’mông?”. Cánh tay của nhiều học sinh lập tức giơ lên. Các em hào hứng kể về gia đình, bản làng bằng tiếng mẹ đẻ rồi cùng trao đổi lại bằng tiếng Việt. Những hoạt động tưởng chừng rất bình dị ấy đang góp phần giải quyết một bài toán không dễ ở vùng cao: làm thế nào để trẻ em dân tộc thiểu số vừa sử dụng thành thạo tiếng Việt để tiếp cận tri thức hiện đại, vừa không đánh mất tiếng nói và bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Bước vào kỷ nguyên hội nhập với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số,vấn đề bảo tồn ngôn ngữ nơi biên viễn đang trở thành cuộc đấu tranh tư tưởng vô cùng khốc liệt. Sự xâm lăng của thứ “văn hóa mạng” thiếu chọn lọc, các trào lưu trên các nền tảng xuyên biên giới như TikTok, YouTube đã và đang tạo ra một bộ phận giới trẻ vùng caocó xu hướng sử dụng ngôn ngữ mạng nhiều hơn tiếng mẹ đẻ, ít quan tâm đến các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Nếu không có những giải pháp phù hợp, khoảng cách giữa thế hệ trẻ với văn hóa nguồn cội sẽ ngày càng lớn hơn. Đây là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình giáo dục, bảo tồn bản sắc văn hóa và niềm tự hào dân tộc khu vực vùng cao, biên giới.
Thấy rõ nguy cơ mang tính chiến lược đó, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã quyết liệt lãnh đạo, định hướng giáo dục trong trường học vùng biên không thuần túy là nhiệm vụ mà là một chiến lược củng cố ý chí, niền tincho thế hệ tương lai. Chiến lược nàyđược đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng;được thể chế hóa từ các nghị quyết chuyên đề của cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở. Đáng chú ý, nhiều chi bộ trường học vùng cao, biên giới đã đưa nội dung bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc vào nghị quyết hằng năm. Tại các lớp học mầm non và tiểu học vùng biên, 100% trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường năng lực tiếng Việt để thuận lợi trong học tập ở bậc tiểu học, đồng thời tiếng mẹ đẻ vẫn được tôn trọng và khuyến khích sử dụng nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực tiễn cho thấy, nơi nào tiếng nói dân tộc thiểu số được gìn giữ, nơi đó bản sắc văn hóa được bảo tồn và niềm tin của đồng bàođối với chủ trương của Đảng được củng cố vững chắc hơn, góp phần đập tan mưu đồ lợi dụng vấn đề dân tộc của các đối tượng xấu.
“Tài sản hóa tri thức bản địa” - Đưa di sản vào trường học trở thành nguồn lực nội sinh
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định một quan điểm mang tính bước ngoặt vĩ mô:“Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”. Đối với vùng cao biên giới, việc cụ thể hóa quan điểm này chính là quá trình biến các giá trị di sản văn hóa vốn được lưu giữ trong ký ức - thành một nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, một thứ “tài sản chiến lược” phục vụ phát triển bền vững và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Văn hóa không thể phát huy sức mạnh nếu nó bị đóng khung trong trạng thái tĩnh; văn hóa phải được sống, được thực hành và được tiếp nối liên tục trong dòng chảy của thời đại.
Để giải quyết thực trạng này, Quyết sách mang tính pháp lý của cấp ủy Đảng địa phương đã xây dựng cơ chế để nghệ nhân dân gian trên địa bàn tỉnh chính thức bước lên bục giảng phổ thông. Mô hình này thành công và bền vững chính là nhờ sự tiên phong, gương mẫu “đứng mũi chịu sào” của các đảng viên trong chi bộ trường học, những người trực tiếp thành lập và duy trì các câu lạc bộ văn hóa dân tộc, lớp học chữ cổ, tạo bệ đỡ tâm hồn vững chãi cho thế hệ trẻ. Từ đó, các câu lạc bộ văn hóa dân tộc, lớp truyền dạy nghề truyền thống đã từng bước được hình thành và phát triển bền vững.
Nghệ nhân Vàng Chá Thào người nhiều năm tham gia truyền dạy nghệ thuật chế tác và trình diễn khen H’mông tại các trường học ở xã Đồng Văn, chia sẻ: “Điều khiến tôi vui nhất là ngày càng có nhiều học sinh quan tâm đến chế tác, trình diễn khèn của dân tộc mình. Khi nhà trường và địa phương tạo điều kiện, chúng tôi có cơ hội truyền lại những giá trị mà cha ông để lại cho thế hệ trẻ”.Mỗi tuần, ông Vàng Chá Thào đều dành thời gian để hướng dẫn các em học sinh những công đoạn chế tác khèn và múa những điệu khèn, tập hát các làn điệu dân ca truyền thống. Không ít em ban đầu còn e ngại vì cho rằng những giá trị ấy đã xa rời cuộc sống hiện đại. Nhưng chỉ sau vài buổi học, nhiều học sinh bắt đầu chủ động tìm hiểu về nguồn gốc dòng họ, phong tục của dân tộcvà tham gia tích cực vào các câu lạc bộ văn hóa trong nhà trường.
Theo các giáo viên địa phương, điều quan trọng nhất không nằm ở việc các em thuộc được bao nhiêu bài hát cổ, múa được bao nhiêu điệu khèn mà ở chỗ các em hiểu rằng bản sắc văn hóa dân tộc là một phần của tâm hồn mình và cần được gìn giữ trong cuộc sống hôm nay. Việc đưa nghệ nhân vào trường học đã tạo điều kiện để học sinh tiếp cận trực tiếp với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Các em không chỉ học cách thêu thổ cẩm, vẽ sáp ong hay thổi khèn, hát Then mà còn hiểu thêm về phong tục, tập quán, lối sống và những bài học ứng xử nhân văn sâu sắc được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Qua đó, học sinh thêm tự hào về nguồn cội, có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của cộng đồng. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong học đường và cộng đồng dân cư vùng biên giới.Việc “tài sản hóa tri thức bản địa” đã mang lại cho thế hệ trẻ vùng cao một bệ đỡ tâm hồn vững chãi, đập tan định kiến lệch lạc cho rằng văn hóa dân tộcthiểu số là lỗi thời. Những thành quả mang tầm quốc tế mà Tuyên Quang đạt được, tiêu biểu như việc làng Lô Lô Chải được UN Tourism vinh danh là “Làng Du lịch tốt nhất thế giới” vào cuối năm 2025, chính là những trái ngọt từ tư duy lãnh đạo đúng đắn của Đảng: Biến di sản thành tài sản, biến niềm tự tôn bản sắc trong học đường thành vũ khí bảo vệ chủ quyền biên giới mềm của Tổ quốc.
Bản lĩnh người Đảng viên cơ sở: Đưa nghị quyết của Đảng vào đời sống
Để các chủ trương của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ở các xã vùng cao biên giới, mỗi cán bộ quản lý giáo dục, mỗi thầy cô giáo cắm bản không chỉ là người “gieo chữ” mà còn là lực lượng trực tiếp đưa nghị quyết vào thực tiễn đời sống. Bằng sự gắn bó thân thiết với nhân dân, họ góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao nhận thức cộng đồng và củng cố niềm tin của người dân vào chủ trương, đường lối của Đảng.Thông qua công tác dân vận, các thầy cô giáo đã kiên trì vận động người dân xóa bỏ tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, từng bước thay đổi những tập quán không còn phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giữ gìn khối đại đoàn kết và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới.
Thầy giáo Mã Văn Diễn (áo kẻxanh, thứ 2 từ phải sang)-Người đảng viên “gieo chữ” nơi biên cương
Nhắc đến công tác vận động học sinh đến trường ở xãBản Máy, nhiều người nhớ đến thầy giáo MãVăn Diễn, Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng trườngPhổ thông dân tộc bán trú Tiểu học & THCS Bản Máy, xã Bản Máy. Hơn mười năm gắn bó với vùng biên, có những mùa đông lạnh buốt thầy cùng giáo viên trong trường vượt hàng chục kilômét đường núi để tìm gặp từng gia đình có nguy cơ cho con nghỉ học.Có lần, một học sinh lớp 5 nghỉ học nhiều tuần để theo bố mẹ lên nương, thầy Diễncùng giáo viên chủ nhiệm nhiều lần đến tận nhà, lên tận nương cùng làm việc để vận động phụ huynh cho con trở lại trường. Không chỉ giải thích về quyền được học tập của trẻ em, các thầy cô còn hỗ trợ gia đình tháo gỡ những khó khăn trước mắt để em trở lại lớp.“Làm giáo dục ở vùng biên không chỉ dạy chữ, muốn giữ được học sinh thì phải hiểu phong tục, hiểu hoàn cảnh và thực sự trở thành người thân của bà con”, thầy Diễnchia sẻ.
Nhiều năm cắm bản, thầy Diễn không thể nhớ hết mình đã vượt qua những vách đá sắc lẹm, bao nhiêu quãng đường rừng để đến từng nếp nhà, ngồi bên bếp lửa vận động học sinh ra lớp. Thầy Diễn chia sẻ:“Người miền núi mình mộc mạc lắm, giáo điều vĩ mô bà con không nghe đâu. Tôi luôn dặn các đồng nghiệp trong chi bộ rằng, mình là đảng viên, mình phải biết nói tiếng của đồng bào, hiểu cái nếp nghĩ để giảng giải cái hay của nếp sống mới, mới vận động được phụ huynh cho con đi học. Có giữ được cái chữ, giữ được tiếng nói dân tộc, thì lòng dân mới bền, biên giới mới yên ổn được”.Từ sự kiên trì của thầy và tập thể chi bộ nhà trường, nhiều năm qua, tỷ lệ duy trì sĩ số của trường luôn đạt hơn 98%. Một đồng nghiệp của thầy Diễn kể rằng, có những ngày mưa rét phủ kín núi đá, đường trơn như đổ mỡ, nhưng người Bí thư Chi bộ ấy vẫn lặng lẽ vượt nhiều kilômét đường rừngđể tìm học sinh bỏ học. Có em trở lại lớp sau ba, bốn lần vận động, có gia đình phải mất hàng tháng trời thuyết phục mới đồng ý cho con tiếp tục đến trường. Những bước chân kiên trì ấy là minh chứng sinh động nhất cho tinh thần tiên phong, gương mẫu của người thầy giáo, người đảng viên nơi biên cươngxa xôi của Tổ quốc.
Chị Mua Thị Dính, phụ huynh học sinh người H’mông tại xã Bản Máy cho biết: “Nhờ sự vận động kiên trì của các thầy cô giáo, bà con trong bản dần dần hiểu ra chỉ có đi học mới giúp con mình hết nghèo, hết khổ. Nay các cháu được học trong trường nội trú, vừa được học cái chữ, vừa được học múa hát nên gia đình yên tâm lắm”.
Ở vùng cao biên giới, nghề dạy học không khép lại khi tiếng trống tan trường vang lên. Người thầy còn làm công tác tuyên truyền, là cầu nối giữa nhà trường với bản làng, giữa chủ trương của Đảng với từng gia đình. Những buổi vượt núi đến từng nhà vận động học sinh trở lại lớp, những giờ lặng lẽ kèm thêm cho các em sau giờ học hiếm khi xuất hiện trên mặt báo. Nhưng chính từ những việc làm thầm lặng ấy, chủ trương của Đảng được chuyển hóa thành niềm tin của nhân dân, thành những lớp học đủ sĩ số và thành những ước mơ không còn dang dở.
Sức mạnh của tổ chức Đảng ở vùng cao vì thế không được đo bằng những khẩu hiệu lớn lao, mà được kiểm chứng bằng sự thay đổi trong từng bản làng và niềm tin của mỗi gia đình đối với nhà trường. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ, nhiều mô hình giáo dục thiết thực đã được duy trì: tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; tổ chức các câu lạc bộ văn hóa truyền thống; lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biên giới trong các hoạt động trải nghiệm. Chính những việc làm bền bỉ ấy đã giúp nghị quyết của Đảng hiện diện bằng những đổi thay cụ thể trong đời sống của nhân dân.
Những lớp học ngay bên cột mốc biên giớihôm nay đang âm thầm chuẩn bị đội ngũ kế cận cho hệ thống chính trị cơ sở - một sự đầu tư chiến lược mang ý nghĩa lâu dài đối với công tác xây dựng Đảng ở địa bàn biên giới.Đồng hành cùng nhà trường trong nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ còn có những cán bộ, đảng viên biên phòng đang ngày đêm bám địa bàn nơi tuyến đầu Tổ quốc. Đồng chí Trung tá Nguyễn Văn Thuận, đảng viên công tác tại đồn biên phòng Bản Máy - Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang là một trong những người thường xuyên phối hợp với các trường học vùng biên tổ chức các hoạt động tuyên truyền pháp luật, giáo dục chủ quyền biên giới quốc gia và kỹ năng phòng, chống thông tin xấu độc trên không gian mạng.Trong nhiều buổi gặp gỡ, hình ảnh người đảng viên quân hàm xanh đứng trước học sinh để kể cho các em nghe về từng cột mốc, từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc đã trở thành minh chứng sinh động cho sự gắn kết giữa công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình mới.Sự phối hợp chặt chẽ giữa chi bộ nhà trường và các tổ chức Đảng trong lực lượng biên phòng đang tạo nên sức mạnh tổng hợp, củng cố vững chắc thế trận lòng dân nơi biên cương Tổ quốc.

Đồng chí Trung tá Nguyễn Văn Thuận và các em học sinh ở xã Bản Máy
Ở những vùng đất mà quãng đường từ nhà đến trường có khi phải vượt qua nhiều giờ leo núi, mỗi học sinh được giữ lại lớp học là thêm một cơ hội để bản làng phát triển bền vững. Mỗi gia đình thay đổi nhận thức về việc học là thêm một mắt xích được củng cố trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Và mỗi đảng viên, mỗi thầy cô giáo bám trường, bám bản chính là những người đang lặng lẽ bồi đắp “thế trận lòng dân” từ những việc làm giản dị nhất. Có thể hôm nay các em chưa hiểu hết ý nghĩa của những khái niệm lớn lao như chủ quyền dân tộc, an ninh biên giới hay bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhưng từ những con chữ đầu tiên, từ tình yêu quê hương được vun đắp mỗi ngày và từ tấm gương của những người thầy, người đảng viên tận tụy, các em sẽ lớn lên với bản lĩnh, trách nhiệm và khát vọng cống hiến cho quê hương, đất nước.
Thực tiễn giáo dục vùng biên cho thấy một bài học có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng: muốn nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống phải bắt đầu từ việc chăm lo cho con người; muốn xây dựng thế trận lòng dân bền vững phải đầu tư cho giáo dục; và muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng một cách lâu dài thì phải bồi dưỡng thế hệ trẻ bằng tri thức, bản lĩnh, bản sắc văn hóa và niềm tự hào dân tộc.
KỲ CUỐI: GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC CHO TƯƠNG LAI
Những “cột mốc sống” mang tư duy thời đại số và khát vọng tự cường
Sự trưởng thành của thế hệ trẻ vùng biên hôm nay là kết quả của quá trình đầu tư lâu dài cho giáo dục, văn hóa và phát triển con người dưới sự lãnh đạo của Đảng. Học sinh các dân tộc H’mông, Dao, Lô Lô, Pà Thẻn... ngày càng có điều kiện tiếp cận giáo dục chất lượng hơn, từng bước làm chủ tri thức, công nghệ và kỹ năng của thời đại số, đồng thời vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Những đứa trẻ vùng biên không còn mang sự rụt rè, tự ti hay rào cản bất đồng ngôn ngữ của thế hệ cha ông thuở trước. Được trang bị kiến thức và kỹ năng số, nhiều học sinh vùng cao đã biết sử dụng điện thoại thông minh để giới thiệu nét đẹp văn hóa dân tộc, quảng bá sản phẩm địa phương lên không gian số.
Gặp em Sùng Thị Phương Thảo, học sinh lớp 6A Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS Phố Bảng, chúng ta mới thấy rõ quả ngọt của hành trình gieo mầm tri thức ấy. Sinh ra trong một gia đình thuần nông người H’mông cheo leo trên đỉnh núi đá, nếu không có mái trường nội trú nâng bước, cuộc đời Thảo có lẽ đã sớm gắn liền với cái cuốcvà cái nghèo bám riết. Giờ đây, Thảokhông chỉ là một học sinh giỏi chăm ngoan, thông thạo công nghệ, biết sử dụng máy tính để tra cứu tài liệu học tập, mà em còn là thành viên nòng cốt của Câu lạc bộ Văn hóa H’môngnhà trường. Cầm chiếc điện thoại thông minh, Thảo tự hào khoe những thước phim ngắn do chính em tự quay, tự dựng bằng tiếng Việt có phụ đề tiếng H’mông để giới thiệu nét đẹp của trang phục vải lanh, kiến trúc nhà trình tường Cao nguyên đá Đồng Văn. Ánh mắt kiên định của cô bé người H’mông rạng ngời khi nói về ước mơ tương lai:“Nếu ngày trước cái bụng không chịu đi học, chắc giờ em chỉ biết đi nương tra ngô thôi, mù cái chữ thì khổ lắm. Được các thầy cô nuôi ăn học ở trường nội trú, em sẽ cố gắng học thật giỏi để sau này làm cô giáo. Em sẽ mang cái chữ sáng về bản mình, cùng bà congiữbảnkhông cho kẻ xấu vào lừa gạt”.

EmSùng Thị Phương Thảo (ngồi giữa)và hành trìnhmang tri thức số về với bản làng
Câu chuyện của Sùng Thị Phương Thảo không phải là một trường hợp riêng lẻ. Đó là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ học sinh vùng biên đang lớn lên trong những ngôi trường được Đảng và Nhà nước đầu tư xây dựng giữa đại ngàn. Tiếng trống tan học đã ngừng từ lâu, Thảovẫn chưa về, em cùng vài người bạn ngồi lại để hoàn thiện đoạn video giới thiệu nghề dệt lanh của bà nội vừa quay vào cuối tuần. Trên màn hình điện thoại hiện lên những nếp nhà trình tường nép dưới chân núi, đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ H’mông bên khung cửi và những nương ngô xanh ngắtbám vào vách đá xám cheo leo.Thảotỉ mỉ chỉnh từng dòng phụ đề bằng tiếng Việt rồi cười: “Em muốn nhiều người biết bản mình đẹp và hiểu người H’mông mình hơn”. Đó là cách một cô học trò vùng biên lựa chọn để kể câu chuyện về quê hương bằng ngôn ngữ của thời đại số. Chính trong khoảnh khắc ấy, tri thức từ lớp học đã gặp gỡ tình yêu bản làng, còn công nghệ trở thành phương tiện để gìn giữ và lan tỏa văn hóa dân tộc. Khung cảnh ấy diễn ra bình dị mỗi ngày, nhưng chính sự bình dị ấy lại phản ánh một chuyển động bền bỉ của giáo dục vùng biên: tri thức hiện đại và bản sắc văn hóa không đối lập, mà đang song hành trong từng giờ học, từng hoạt động ngoại khóa và trong chính nếp sống của học sinh.
Đứng từ sân trườngPhổ thông Dân tộc nội trú THCS Phố Bảng nhìn về phía những dãy núi trùng điệp, nơi đường biên khuất dần trong màn sương chiều, có thể cảm nhận rõ rằng những lớp học sáng đèn hôm nay không chỉ mang theo khát vọng đổi đời của mỗi gia đình, mà còn góp phần bồi đắp một nền tảng xã hội vững chắc ở vùng biên. Mỗi học sinh được giữ lại trường lớp là thêm một cơ hội để bản làng phát triển bền vững. Mỗi người trẻ biết trân trọng tiếng nói, văn hóa của dân tộc mình nhưng vẫn tự tin bước vào không gian số là thêm một minh chứng cho hiệu quả của con đường giáo dục mà Đảng đã lựa chọn. Tuy nhiên, nhưng ánh đèn trong những lớp học vùng biên không thể chỉ được thắp sáng bằng lòng tận tụy của thầy cô và khát vọng của học trò. Để ánh sáng ấy không tắt giữa những mùa đông lạnh buốt trên đỉnh núiđá tai mèo, cần có những quyết sách đủ dài hơi và những nguồn lực đủ bền vững.
Khơi thông “điểm nghẽn” chính sách - Bài toán vĩ mô sau bước ngoặt lịch sử
Thực tiễn luôn đặt ra những yêu cầu mới,những kết quả đạt được hôm nay không đồng nghĩa với việc mọi khó khăn đã được giải quyết, và hành trình kiến tạo “vành đai tri thức xanh” nơi biên giới vẫn còn nhiều thử thách phía trước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục và bảo tồn văn hóa vùng biên vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới. Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh địa giới hành chính và yêu cầu chuyển đổi số trong quản lý nhà nước đặt ra nhiều nhiệm vụ mới đối với hệ thống chính trị ở cơ sở. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và bảo đảm các nguồn lực phát triển lâu dài cho khu vực vùng cao, biên giới.
Từ góc độ công tác xây dựng Đảng, đây cũng là thời điểm đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng ở vùng cao, đòi hỏi các chi bộ trường học, chi bộ thôn bản cần được tăng cường năng lực lãnh đạo, khả năng ứng dụng công nghệ số và kỹ năng vận động quần chúng trong bối cảnh mới.
Mặt khác, một “điểm nghẽn” vĩ mô khác cần được nhìn thẳng bằng nhãn quan phê bình và tự phê bình sắc bén, đó là tính bền vững của các nguồn lực. Hiện nay, ngân sách dành cho việc đưa di sản, ngôn ngữ bản địa vào học đường phần lớn vẫn nằm trong khuôn khổ của các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia mang tính ngắn hạn theo giai đoạn. Khi các dòng vốn đầu tư này khép lại, câu hỏi về số phận của các lớp học truyền dạy chữ cổ, nghề truyền thống sẽ đi về đâu vẫn luôn là nỗi trăn trở canh cánh của những người làm tâm huyết. Khi các nghệ nhân cao tuổi lần lượt qua đời, nhiều loại hình tri thức dân gian, chữ viết cổ, làn điệu dân ca đứng trước nguy cơ thất truyền nếu không có những giải pháp dài hạn và mang tính thể chế bền vững.
Chiến lược cho giáo dục và văn hóa vùng biên góp phần giữ vững chủ quyền dân tộc
Phía sau những lớp học khang trang và những kết quả tích cực hôm nay vẫn còn không ít nỗi trăn trở. Một số loại hình văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một khi lớp trẻ chịu tác động ngày càng mạnh của môi trường số. Ở nhiều xã vùng cao biên giới, việc tìm kiếm giáo viên vừa giỏi chuyên môn, vừa hiểu tiếng nói và văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là bài toán khó.
Những thách thức ấy cho thấy hành trình xây dựng “vành đai tri thức xanh” nơi biên giới chưa thể dừng lại ở việc đầu tư cơ sở vật chất. Điều cần thiết hơn là xây dựng những cơ chế lâu dài để giáo dục, văn hóa và công tác xây dựng Đảng tiếp tục đồng hành, tạo động lực phát triển bền vững cho vùng biên trong giai đoạn mới.
Để những định hướng mà Tổng Bí thư Tô Lâm nêu ra tại Tân Trào tiếp tục được hiện thực hóa trong giai đoạn mới, tỉnh Tuyên Quang cần có các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo tồn văn hóa dân tộc và phát triển nguồn nhân lực vùng biên giới.
Giữ người thầy ở lại vùng biên, cần xem đội ngũ cán bộ, giáo viên vùng cao là nhân tố quyết định thành công của mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Thực tiễn cho thấy ở đâu có những bí thư chi bộ tâm huyết, những đảng viên bám trường, bám bản thì ở đó tỷ lệ học sinh đến lớp ổn định hơn, hủ tục được đẩy lùi nhanh hơn và niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố rõ nét hơn. Vì vậy, tỉnh cần có cơ chế đặc thù trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là người dân tộc thiểu số hoặc am hiểu sâu sắc văn hóa địa phương. Mỗi giáo viên cắm bản không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là một hạt nhân chính trị, một cán bộ dân vận trực tiếp ở cơ sở.
Đừng để di sản chỉ sống nhờ dự án, việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết và tri thức dân gian của các dân tộc vùng biên không thể chỉ trông chờ vào các dự án có thời hạn. Đã đến lúc cần xây dựng một cơ chế ổn định và lâu dài để nghệ nhân được tham gia giảng dạy trong nhà trường với tư cách là những chủ thể văn hóa thực sự. Khi người giữ di sản có điều kiện sống được bằng di sản và được xã hội tôn vinh xứng đáng, quá trình trao truyền văn hóa cho thế hệ trẻ mới có thể diễn ra bền vững.
Để văn hóa trở thành sinh kế của người trẻ, là phải gắn giáo dục với sinh kế và khát vọng phát triển của thanh niên vùng cao. Nhà trường không chỉ dạy học sinh giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn cần giúp các em nhìn thấy giá trị kinh tế từ chính bản sắc ấy. Những làn điệu dân ca, nghề dệt thổ cẩm, tri thức cây thuốc nam, kiến trúc nhà trình tường hay lễ hội truyền thống hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch xanh, kinh tế cộng đồng và các sản phẩm OCOP đặc trưng. Khi văn hóa trở thành động lực phát triển, người trẻ sẽ có thêm lý do để gắn bó với quê hương, với bản làng và với đường biên củaTổ quốc.
Số hóa tri thức bản địa cho tương lai, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về văn hóa và giáo dục vùng biên cũng cần được coi là nhiệm vụ chiến lược. Ngôn ngữ dân tộc, những làn điệu dân ca cổ, những tri thức bản địa quý báuvà cả những mô hình giáo dục tiêu biểu cần được số hóa, lưu giữ và lan tỏa trên không gian mạng. Đây không chỉ là giải pháp bảo tồn văn hóa mà còn là một phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới, góp phần khẳng định chủ quyền văn hóa và lan tỏa hình ảnh tích cực của đồng bào các dân tộc nơi biên cương Tổ quốc.
Xây dựng “Vành đai tri thức xanh” không phải là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Đó là sự đầu tư lâu dài cho con người, cho niềm tin và cho năng lực phát triển bền vững của vùng biên. Mỗi chính sách đúng đắn hôm nay mở thêm một cơ hội học tập cho trẻ em vùng cao, biên giới; mỗi ngôi trường được xây dựng và duy trì góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc; mỗi học sinh trưởng thành từ những mái trường nơi biên giới sẽ trở thành nguồn nhân lực có tri thức, có bản lĩnh, có trách nhiệm với quê hương và đất nước. Đây cũng là nền tảng để tỉnh Tuyên Quang từng bước hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững từ 3 - 4%/năm và nâng tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia lên 80% theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 - 2030).
Từ thực tiễn vùng biên giới Tuyên Quang hôm nay có thể rút ra một nhận thức sâu sắc: bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới không chỉ được xây dựng từ những tuyến phòng thủ quân sự hay những cột mốc chủ quyền hữu hình trên đỉnh núi, mà còn được bồi đắp từ chất lượng nguồn nhân lực, từ trình độ dân trí, từ bản lĩnh văn hóa và từ niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Những lớp học sáng đèn giữa đại ngàn, những người thầy bám bản, những nghệ nhân kiên trì truyền dạy văn hóa và những học sinh đang lớn lên trong các ngôi trường vùng biên chính là minh chứng sinh động cho quá trình hiện thực hóa chủ trương ấy.
Có những cột mốc được dựng bằng đá, nhưng cũng có những “cột mốc sống”được bồi đắp từng ngày bằng tri thức, văn hóa, niềm tin và khát vọng cống hiến. Khi mỗi đứa trẻ vùng cao, biên giới được học tập trong điều kiện tốt hơn, mỗi bản làng giữ được tiếng nói, bản sắc và niềm tin vào tương lai, thì “Vành đai tri thức xanh” sẽ không chỉ là một khái niệm hay một mục tiêu phát triển, mà sẽ trở thành nền tảng bền vững để giữ đất, giữ dân, giữ văn hóa và góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc từ gốc rễ./.
Tác giả: ThS. Nguyễn Hoàng Hoa - Khoa Sư phạm: Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang